SÂU RĂNG

Dịch tễ

- Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới

Khoảng 90% trẻ em tuổi đến trường trên toàn thế giới và hầu hết người trưởng thành dều đã trải qua bệnh sâu răng. Tỉ lệ bệnh cao nhất là ở Châu Á và Châu Mỹ Latin và tỉ lệ thấp ở Châu Phi. Ỏ Mỹ sâu răng là bệnh mạn tính phổ biến nhất ở trẻ em gấp khoảng 5 lần so với tỉ lệ bị bệnh Hen. Ở người lớn tuổi 50 ti lệ bị sâu răng dao động trong khoảng 29% đến 59% giữa các nghiên cứu

- Tình hình bệnh răng miệng ở Việt Nam

Viện Răng Hàm Mặt quốc gia vừa đưa ra con số thống kê với 99,4% dân số mắc bệnh về răng miệng. Người càng lớn tuổi, càng bị sâu răng nhiều.

Cụ thể, tỷ lệ sâu răng ở độ tuổi dưới 18 là 87,5% (với 2,84 chiếc răng sâu/người); từ 33 - 44 tuổi là 83,2% (với 4,7 chiếc răng sâu/người) và trên 45 tuổi là 89,7% (8,43 chiếc răng sâu/người). Bệnh tập trung chủ yếu là viêm lợi kèm theo cao răng, có túi mủ quanh răng ở mức độ nông sâu khác nhau, bị viêm lợi nhẹ và mất răng.

 

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ sâu răng ở Việt Nam cao. Cụ thể, nồng độ fluor trong nước ăn hầu hết chỉ ở mức 0,4 ppm (chưa bằng ½ chuẩn quốc tế). Tuy nhiên, vấn đề chính yếu là công tác chăm sóc răng miệng của người dân còn quá thấp. Trên 60% trẻ em không bao giờ được đi khám răng miệng (bao gồm cả học sinh tiểu học và trung học), trên 50% người lớn không bao giờ đi khám răng miệng.

 

Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc (được thực hiện năm 1999-2001) thì tỉ lệ sâu răng sữa ở trẻ em đang ở tuổi đến trường (từ 6-8 tuổi) là 85%, ở độ tuổi lớn hơn (9-11 tuổi), tỉ lệ này là 56,3%. Một điều báo động nữa là trong thực tế, tỉ lệ mắc bệnh sâu răng vĩnh viễn càng cao khi tuổi càng lớn.

 

Kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc, do Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội và Đại học Adelaide (Australia) tiến hành gần đây, cho thấy trên 90% dân số Việt Nam bị sâu răng và mắc các bệnh về răng, đặc biệt tập trung ở lứa tuổi từ 35-44 (tỷ lệ mắc bệnh lên tới 98%).

Định nghĩa

Bệnh sâu răng chính là tổn thương tiêu huỷ tổ chức cứng của răng (bao gồm men răng và ngà răng tổ chức không có tế bào), tạo nên lỗ hổng trên bề mặt răng. Sâu răng có thể ở bề mặt thân răng hoặc cổ răng, tổn thương sâu trên thân răng bắt đầu từ men răng, còn tổn thương trên cổ răng bắt đầu từ men răng hoặc ngà cổ răng. Bệnh không tự khỏi. Sâu răng là bệnh rất phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi

 

 

 

 

Diễn biến quá trình sâu răng và hậu quả liên quan chặt chẽ với giải phẫu răng

 

Buồng tuỷ răng  gồm mạch máu, các sợi thần kinh tạo thành tuỷ răng thông với bó mạch thần kinh hàm trên hoặc hàm dưới qua lỗ chóp ở vùng chân răng. mỗi răng thường có từ 1 đến 3 chân răng, răng cửa có 1 chân, răng hàm nhỏ thường dao động từ 1 đến 2 chân răng, răng hàm thường có 3 chân răng trở lên. Tuỷ răng thường được chia thành 2 phần là tuỷ thân nằm trong thân răng và tuỷ chân nằm trong chân răng. Tuỷ răng bình thường vô trùng và được che bọc bảo vệ bởi men răng và ngà răng.

 

 

 

Khi lỗ sâu hình thành trên bề mặt men răng, làm thủng lớp men, thủng tiếp tục qua ngà răng đến buồng tuỷ sẽ tạo thành một đường dẫn vi khuẩn từ môi trường miệng tấn công vào tuỷ răng, gây đau nhức, bệnh nhân nếu không được điều trị sẽ trải qua các cảm giác của viêm tuỷ cấp, viêm tuỷ mạn tính và viêm tuỷ hoại tử mà dân gian thường đúc kết bằng câu “ Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng”.

 

 

 

 

 

 

Kết thúc quá trình này đôi khi là một sự lắng dịu hoặc biến mất của các triệu chứng gây nhầm tưởng là bệnh sâu răng tự khỏi nhưng thực ra là do sự hoại tử của tuỷ răng, cơ quan có phản ứng rất mạnh trong hiện tượng viêm đã kết thúc nhưng xét theo cấu trúc răng thì lúc này buồng tuỷ và lỗ ống tuỷ dọc theo các chân răng lại như một cái ống hai đầu: một đầu thông với môi trường miệng qua lỗ sâu, một đầu thông với xương hàm qua lỗ chóp chân răng và như vậy sau quá trình sâu răng, viêm và hoại tử tủy răng là quá trình viêm xương hàm vùng quanh chóp chân răng. Vùng xương quanh chóp sẽ hình thành u quanh chóp răng, u này khi phát triển to dần, các tế bào vùng lõi ít được nuôi dưỡng sẽ thoái triển hoặc hoại tử trỏ thành dịch, u lúc này được gọi là nang chân răng, nang này nằm giữa chiều dày của xương hàm trên hoặc dưới dính vào vùng chóp chân răng, nang tiếp tục phát triển ra phía trước có thể tạo ra lỗ dò dịch nang ra ra lợi hoặc vào phía trong tạo ra lỗ dò vùng hàm ếch vòm miệng ngang với vùng chóp chân răng.

Nguy hiểm hơn nữa là nang phát triển sang ngang các chân răng bên cạnh gây chèn ép và chết tuỷ các răng lân cận

 

 

Sâu răng còn tạo một lỗ chứa thức ăn, vi khuẩn. đây là nguồn gieo rắc vi khuẩn gây viêm đường hô hấp trên, mũi, xoang đường hô hấp dưới  như họng, khí phế quản…

Sâu răng còn là nguồn gốc gây hôi miệng do lỗ sâu chứa thức ăn, vi khuẩn sinh dưỡng và lên men nguồn thức ăn này, giải phóng ra các sản phẩm phân huỷ thức ăn như khí H­­­2S có mùi hôi

Nguyên nhân

Các nguyên nhân xã hội dẫn đến việc Việt Nam nằm trong nước có tỉ lệ bệnh sâu răng và viêm quanh răng cao nhất thế giới: Nguyên nhân chính là thiếu bác sĩ răng hàm mặt và tổ chức khoa, phòng răng hàm mặt tại các địa phương còn yếu kém. Nồng độ fluor trong nguồn nước tại một số vùng quá thấp (dẫn đến bệnh sâu răng) và hầu hết người dân chưa quan tâm đến chăm sóc răng miệng. Ngoài ra, trên 60% trẻ em và trên 50% người lớn tại Việt Nam không bao giờ đi khám răng miệng, một phần do thiếu hiểu biết về phòng bệnh răng miệng

Trước đây người ta cho răng nguyên nhân chính gây ra sâu răng là do vi khuẩn và đường

Men của vi khuẩn + Glucid lên men + Thời gian è Acid.

Acid + răng = Tiêu canxi.

Sâu răng gây ra bởi các loại vi khuẩn sản sinh acid điển hình là Lactobacillius và Streptococcus Mutans. Chúng chuyển hoá các loại Carbonhydrat có thể lên men như đường Sucrose, đường Fructose và đường Glucose thành acid Lactic kết quả là làm tăng lượng Acid Lactic và giảm độ pH trong miệng, những chất đó có thể hòa tan chất hữu cơ và phân hủy chất vô cơ của kết cấu răng, chúng còn sản sinh và tiết ra chất hữu cơ, polyore, enzyme thủy phân chất lòng trắng trứng (một thành phần trong nước miếng) tạo thuận lợi cho sự lưu đọng của thức ăn trên bề mặt răng.

 

Bệnh sâu răng chỉ diễn ra khi cả 3 yếu tố trên cùng tồn tại ( Vi khuẩn, Glucid và Thời gian ). Vì thế cơ sở của việc phòng chống bệnh sâu răng là ngăn chặn 1 hoặc cả 3 yếu tố xuất hiện cùng lúc.

Còn một yếu tố thứ tư không kém phần quan trọng là bản thân người bệnh. Các yếu tố chủ quan như tuổi tác, bất thường của tuyến nước bọt, bất thường bẩm sinh của răng có thể khiến cho khả năng mắc bệnh sâu răng tăng cao và tốc độ bệnh tiến triển nhanh

 

 

 

 

Ngày nay người ta giải thích nguyên nhân sâu răng bằng cơ chế hóa học và lý sinh học.

Sâu răng =sự  hủy khoáng > sự tái khoáng.

Yếu tố gây mất ổn định                              Sự bảo vệ

+ Mảng bám (vi khuẩn kiểm soát được)

+ Chế độ ăn đường nhiều lần

+ Thiếu nước bọt hoặc nước bọt acid pH< 5.

+ Nước bọt.

+ Khả năng kháng acid của men

+ Fluor có trên bề mặt men răng

+ Trám bít hố rãnh

+ Độ Ca

+ PH> 5,5

Sự ổn định của câu trúc răng trong miệng được cân bằng bởi hai quá trình huỷ khoáng và tái khoáng xảy ra giữa bề mặt răng và môi trường nước bọt quanh răng theo thời gian thực. Khi nồng độ pH của nước bọt quanh răng giảm xuống dưới mức 5,5, tốc độ huỷ khoáng nhanh hơn tốc độ tái khoáng. Điều này có thể hiểu rằng môi trường acid đã làm mất cấu trúc men hoặc ngà răng ở trên một vùng nào đó của thân răng mà có đồng thời cả 3 yếu tố tạo ra acid: Vi khuẩn, Carbonhydrat và Thời gian thực

Các yếu tố chính tham gia vào sự cân bằng huỷ khoáng và tái khoáng là:

1. Vi khuẩn có sẵn trong miệng, chủ yếu là Lactobacillius và Streptococcus Mutans, khi có thức ăn dính lên mặt răng đặc biệt là đường và tinh bột, các vi khuẩn sẽ phân hủy thức ăn tạo nên acid ăn mòn men răng tạo thành lỗ sâu. Vi khuẩn, acid, mùn thức ăn trên mặt răng sẽ tạo thành một màng dính vào răng gọi là màng bám răng, màng này rất dính và có ở tất cả các mặt răng đặc biệt là răng hàm

 

Mảng bám răng không những gây sâu răng mà còn gây viêm lợi và viêm quanh răng. Màng bám răng dần dần được khoáng hóa bởi các chất khoáng trong nước bọt và thức ăn tạo thành cao răng.

Tốc độ huỷ khoáng lúc này xảy ra vượt xa khả năng tái khoáng trên bề mặt men của môi trường nước bọt quanh răng. Kết quả là tạo ra một lỗ sâu trên vùng thân răng đó, khởi đầu là một vùng men răng đốm phấn trắng nhưng  dần dần sẻ phát triển tăng dn kích thước và chuyển thành một xoang ( l ) trống trên thân răng với màu nâu hoặc đen. Đôi khi sâu răng không xảy ra ở vùng có thể dễ dàng nhìn thấy được như vùng cổ răng hoặc vùng tiếp giáp giữa hai răng, tổn thương sâu răng ở những vị trí này có thể thấy trên phim XQuang


Sau khi men răng bị ăn mòn thành lỗ, vi khuẩn và thức ăn càng có điều kiện bám vào, acid càng được tạo ra nhiều hơn, tổ chức cứng (men và ngà răng) càng bị phá hủy, lỗ sâu được mở rộng và tiến về phía tủy răng. Những người bị tụt lợi hở cổ răng và chân răng thì màng bám răng sẽ bám lên và bắt đầu quá trình phân hủy thức ăn tạo acid trên bề mặt cổ răng và chân răng, mô cứng của răng bị ăn mòn tạo thành lỗ sâu. Người Việt Nam nói chung có thói quen dùng bàn chải cứng và chải ngang nên hay bị mòn cổ răng và chân răng làm lộ ngà chân răng, ngà chân răng bị hở rất dễ bị sâu.

2. Khả năng chống sâu của răng còn tùy thuộc vào trạng thái độ cứng của răng. Hàm răng không bị sứt mẻ, không khiếm khuyết, mọc thẳng hàng, thẳng lối, men răng trắng bóng, mức khoáng hóa răng cao là những yếu tố quan trọng chống lại các tác nhân gây sâu răng. Ngược lại, các yếu tố này không hoàn chỉnh thì nguy cơ sâu răng là rất lớn.

3. Yếu tố tiếp theo gây ra sâu răng được nhắc đến nhiều là mảng bám răng, mảng bám là cấu trúc quan trọng để vi khuẩn bám vào đó sinh sôi nảy nở, nhất là ăn nhiều đường, ăn đồ ngọt, không đánh răng trước khi đi ngủ. Các gợn thức ăn còn bám vào các kẽ răng, nếu không đánh răng thường xuyên và không lấy cao răng định kỳ cũng sẽ làm môi trường thuận lợi cho vi khuẩn gây sâu răng phát triển.

 


          4. Khả năng kháng khuẩn, cân bằng và giữ cho độ pH > 5.5 của nước bọt cũng là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát khả năng xảy ra sâu răng và tốc độ sâu răng

 

Như vậy những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong bệnh sâu răng là vi khuẩn, đường trong thức ăn, thời gian để vi khuẩn và đường tồn tại trong miệng và tính chất nước bọt của người bệnh, độ cứng và hình thể của răng, thói quen VSRM

 

Quá trình từ răng mới sâu đến khi hình thành lỗ sâu phải trải qua một thời gian. Người ta cho rằng từ lúc xuất hiện các đốm răng cho đến khi hình thành lỗ sâu có thể đến 1,5 năm, trong thời gian đó rất cần được điều trị kịp thời.

 

 

 

Triệu chứng

Răng bị sâu sẽ ê buốt khi có kích thích nóng lạnh, chua ngọt, hết ê buốt khi loại bỏ hết các yếu tố kích thích,

Vùng sâu có thể đổi màu đen hoặc nâu

 

Thấy lỗ sâu to hoặc nhỏ có thể thấy thức ăn lưu đọng, đáy lỗ sâu thường rộng hơn miệng lỗ

Đáy lỗ sâu cứng hoặc mềm mủn

Lỗ sâu tiến triển theo từng đợt nên đáy lỗ sâu sẽ buốt khi thăm khám, đáy mềm và ngược lại không buốt và cứng khi thăm khám

Để phát hiện sâu răng, tất cả mọi người cần đi khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần để kiểm tra có bị sâu răng không và chữa kịp thời. Lỗ sâu nằm trên mặt nhai, mặt ngoài và mặt trong của răng thì dễ phát hiện khi khám lâm sàng, lỗ sâu ở mặt tiếp giáp của hai răng thì khó phát hiện hơn, nhiều trường hợp cần chụp Xquang để chẩn đoán

Giai đoạn này thường ít triệu chứng, bệnh tiến triển thầm lặng, kín đáo. Trên thực tế lâm sàng khi người bệnh đi khám và được thông báo răng bị sâu thường đặt câu hỏi với nha sĩ  rằng tại sao không cảm thấy dấu hiệu đau nào cả. Vì vậy cần có một sự hiểu lại cho đúng Sâu răng tức là tổn thương mất mô răng ở men và ngà răng thì không đau, còn khi đã đau răng thì đáng tiếc là bệnh đã ở giai đoạn viêm tủy răng do vi khuẩn xâm nhập gây viêm tuỷ qua đáy lỗ sâu mất rồi

Răng bị sâu khác với các bộ phận khác bị tổn thương, vì đây là một quá trình và là bộ phận duy nhất trong cơ thể không có khả năng tự phục hồi, phải chữa trị..

Khi lỗ sâu tiến sát tủy răng thì tủy răng sẽ bị viêm bởi sự tấn công của vi khuẩn vào tuỷ qua đáy lỗ sâu, bệnh nhân bị đau tủy răng từng cơn. Thông thường khó nhận biết vì khi các lỗ sâu răng xuất hiện thì bệnh đã tiến triển được một thời gian dài, đang bước sang giai đoạn trầm trọng. Nếu không điều trị thì tuỷ răng sẽ chết và có thể phát sinh những biến chứng như viêm quanh cuống răng, viêm xương, viêm hạch

Phân loại theo mức độ

Thông thường sâu răng phát triển liên tục từ lớp nông đến lớp sâu của răng.

Sâu men: Rất khó phát hiện. Triệu chứng ban đầu là răng đổi màu dạng đốm trắng trên một vùng có nguy có sâu cao như trên các rãnh kẽ mặt nhai, mặt bên của các răng hàm, lúc này người bệnh chưa cảm thấy gì, lỗ sâu răng chưa có và kích thích do thức ăn nóng, lạnh chưa xảy ra Khi xuất hiện những đốm trắng trên lâm sàng thì sâu răng đã tới đường men ngà.

Sâu ngà: Một thời gian sau, răng biến đổi sang màu nâu hoặc màu đen. Lỗ sâu ở răng xuất hiện, người bệnh cảm thấy khó chịu khi thức ăn giắt vào lỗ sâu, Dấu hiệu là đau khi kích thích bởi chua, cay, nóng, lạnh. Đau do lạnh nhiều hơn đau do nóng. Hết kích thích thì hết đau. Tuy vậy khi lỗ sâu còn nhỏ thì không đau hoặc lỗ sâu ở mặt bên đã to nhưng miệng nhỏ thì cũng không có dấu hiệu. Nếu lỗ sâu tiếp tục bị sâu thì phần đáy lỗ bị bong calcium và mềm hóa, nhiễm vào tầng sâu của răng, làm cho bệnh nặng hơn. Khi răng đau kéo dài, hoặc mức độ đau gia tăng thì rất có thể tủy răng đã bị viêm do vi khuẩn xâm nhập gây viêm tuỷ răng qua đáy lỗ sâu. Bên cạnh đó, khi bị sâu răng, hơi thở của người bệnh còn có mùi hôi. Vì vậy khi thức ăn dính vào kẽ răng làm viêm lợi hoặc vỡ một mảnh ở thành lỗ sâu hay đi khám mới phát hiện được lỗ sâu



Phân loại theo vị trí

1.Sâu răng mặt nhai

2.Sâu cổ răng xẩy ra thông thường ở tuổi cao niên khi nướu răng bị tuột/ kéo rút do đánh răng không đúng cách hoặc khi bị bệnh nướu răng. Tình trạng này xẩy ra khi nướu răng không còn bao bọc chung quanh cổ răng nữa, và chân răng không có lớp men răng bảo vệ nên dễ đưa tới sâu răng.

3.Sâu kẽ răng

 

 

Điều trị

1.Nếu được phát hiện sớm khi lỗ sâu răng chưa xuất hiện hoặc khi sâu răng chưa ăn sâu vào lớp ngà răng thì phần lớn bệnh sâu răng có thể được ngăn chặn bởi chính người bệnh mà không cần phải điều trị phức tạp, tốn kém.

Có 3 cách chủ yếu để chữa bệnh sâu răng ở giai đoạn sớm, đó là:

- Vệ sinh răng miệng thường xuyên và đúng cách.

- Hạn chế tối đa các thức ăn, đồ uống có phụ gia là đường.

- Sử dụng dung dịch keo Fluor ở chỗ răng sâu. Phương pháp này có tác dụng rất nhanh và hiệu quả trong việc ngăn chặn sâu răng và phục hồi cấu trúc răng trở lại bình thường. Bởi vì Fluor ở dung dịch này có nồng độ cao hơn nhiều so với ở trong kem đánh răng. Nhưng tuyệt đối cách này chỉ được thực hiện bởi nha sĩ để tránh ngộ độc Fluor, nhất là ở trẻ em.

 

2.Khi đã bị sâu răng  có lỗ sâu cách điều trị duy nhất là cần sớm loại bỏ các mô răng đã bị mủn, nhiễm khuẩn và phục hồi bù cấu trúc men răng bằng các  vật liệu hàn răng, trám răng. Hàn vá lỗ sâu là phương pháp thường dùng nhất để chữa sâu răng, áp dụng đối với răng có khả năng định vị sau khi bị sâu. Khi hàn vá sử dụng chất liệu hàn vá để hàn thật chắc vào răng, vá vào chỗ khuyết của răng, khôi phục hình thể của răng, nhằm giữ được thẩm mỹ và chức năng cho hàm răng. Cần điều trị sớm, không đợi răng đau mới chữa.

Dùng vật liệu hàn để bịt kín lỗ sâu răng, ngăn không cho vi khuẩn hoặc các tác nhân bên ngoài như nhiệt độ, hoá chất tấn công, huỷ hoại tuỷ răng. Có 3 loại vật liệu được sử dụng nhiều nhất trong hàn răng là A-mangam, Composite tổng hợp và Cement silicat (hay còn gọi là xi măng sứ).

Dùng thuốc điều trị cho những trường hợp mới chớm sâu, chưa hình thành lỗ. Thuốc dùng thường là chấm vào chỗ bị sâu, đây là những dung dịch có tính sát khuẩn. Phương pháp này chỉ nên áp dụng cho chỗ sâu của răng nghiền phía sâu vì dễ gây đổi màu men răng.


Biện pháp tái khoáng phần bị sâu, dùng dung dịch gồm các chất calcium, phosphate, fluorine đổ vào nơi răng chớm sâu, có khả năng thu hẹp vùng có màu trắng vôi hoặc vùng đó ngừng phát triển. Đây là phương pháp tái khoáng đơn giản, hiệu quả, không đau và an toàn..

Dự phòng

- Để phòng bệnh mọi người cần phải chải răng sau mỗi bữa ăn. Chải răng thường xuyên vào buổi sáng hoặc tối, hoặc ít nhất 1 lần trong ngày sau bữa tối chải răng đúng cách bằng bàn chải lông mềm, chải mặt ngoài, mặt trong và mặt nhai, trên và dưới. Nên cầm bàn chải nghiêng một góc 450 so với  mặt  răng và  đầu  lông bàn  chải  hướng về phía lợi, chuyển động của bàn chải theo chiều lên xuống như hướng mọc của răng hoặc xoay tròn và lùi dần từ trong ra ngoài, chải kỹ rìa lợi và cổ răng. chải từng nhóm răng tới khi sạch, đối với mặt nhai thì đơn giản hơn, chỉ cần đặt lông bàn chải vuông góc với mặt răng và kéo qua kéo lại

 

- Súc miệng bằng nước súc miệng có tính sát khuẩn đặc hiệu với các loại vi khuẩn trong miệng, thêm các chất làm khô niêm mạc miệng, chất tạo mùi thơm…

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại nước súc miệng cho người tiêu dùng lựa chọn nhưng những loại nước súc miệng mang hiệu quả cao không nhiều. Khi mua bạn nên chọn các loại nước súc miệng trong thành phần có các hoạt chất kháng khuẩn cao như: Menthol, Thymol, Eucalyptol, Menthy salicylate.

Nhiều người sử dụng hay pha loãng trước khi dùng làm như vậy sẽ làm giảm tính hiệu quả đến 90% bởi nước súc miệng nguyên bản đang ở dạng tuyệt đối vô trùng, với công thức sát khuẩn cao khi súc miệng nên súc trong miệng khoảng 30 giây để nước súc miệng chạy qua các kẽ răng ngấm vào tận chân răng để tạo thời gian diệt hết vi khuẩn trong miệng.

Đặc biệt khi súc miệng nên lưu ý ngửa cổ cho nước súc miệng tới họng, dùng áp lực hơi giữ cho nước súc miệng chặn lại trong cổ họng trong khoảng 5-7 giây thì sẽ ngăn được nguy cơ viêm họng rất cao, thậm chí còn có tác dụng chữa được viêm họng nữa.

 

- Tránh ăn vặt nhất là ăn vặt đồ ngọt, chải răng đúng cách là việc quan trọng để làm sạch hoàn toàn các răng


- Dùng chỉ nha khoa làm sạch kẽ răng: Các kẽ răng thường vẫn còn đọng thức ăn sau khi chải răng
Nếu đánh và chà răng không thôi thì chỉ làm sạch được 75% bề mặt của răng, 25% còn lại là ở vùng kẽ răng dưới khe nướu và chỉ có chỉ tơ nha khoa làm sạch được vùng này bởi vậy nên sử dụng chỉ nha khoa sau khi chải răng, cách dùng như sau: Lấy một đoạn chỉ nha khoa dài khoảng 40cm, quấn chặt vào hai đầu ngón tay giữa cho tới khi cách nhau 10cm, dùng hai ngón trỏ căng sợi chỉ, dùng ngón trỏ trái hoặc phải ấn sợi chỉ vào kẽ răng còn dắt thức ăn, kéo lên theo kẽ răng, thức ăn sẽ ra theo sợi chỉ. Sau đó cũng trên một kẽ răng đó kéo sợi chỉ cọ qua lại vùng cổ răng của từng răng tạo nên kẽ răng đó

 

 



- Những người bị tụt lợi dẫn đến hở cổ và chân răng nhiều và thưa răng cần dùng thêm bàn chải kẽ răng để làm sạch mặt tiếp giáp giữa các răng. Những răng mọc lệch lạc cần được chỉnh cho đúng vị trí vì răng mọc lệch bị bám thức ăn nhiều hơn làm tăng nguy cơ sâu răng. Tránh ăn vặt đồ ngọt nhiều lần, nên ăn thành bữa và chải răng sau bữa ăn.

- Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần để phát hiện răng sâu và chữa kịp thời

- Dùng kẹo cao su có Xylitol

Xylitol đã được tổ chức An toàn thực phẩm FDI của Mỹ công nhận vào năm 1986.

Xylitol là loại đường tự nhiên đặc biệt không gây sâu răng có nguồn gốc từ Phần Lan. Xylitol là đường mà không phải là đường. Nó không lên men như đường nên các vi khuẩn không thể tạo ra thành môi trường axít trong miệng. Môi trường kiềm từ Xylitol sẽ ngăn chặn toàn bộ các vi khuẩn có hại trong miệng, nhất là những vi khuẩn nguy hiểm nhất như Streptococcus.

Xylitol làm giảm khả năng bị mảng bám răng cũng như sự cân bằng của cacbonhydrat hoà tan. Vì vậy kết quả mảng bám răng ít dính chặt và dễ dàng làm sạch trong quá trình chải răng. Đặc biệt Xylitol có hàm lượng calo thấp hơn các loại đường thông thường đến 40% nên cũng giảm bớt khả năng bị béo phì ở trẻ do ăn quá nhiều đồ ngọt.

Các trung tâm sức khoẻ ở Phần Lan, quê hương của Xylitol khuyến khích việc thường xuyên sử dụng kẹo gum có chứa chất Xylitol sau mỗi bữa ăn và trước khi đi ngủ đối với trẻ em Kết quả, hơn 70% trẻ em Phần Lan không mắc bệnh hư răng ở giai đoạn 5 tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất so với các nước phát triển khác.

Nghiên cứu của các chuyên gia Phần Lan còn cho thấy nếu mẹ nhai kẹo cao su có chứa  Xylitol trong thành phần làm ngọt sẽ làm giảm thiểu tới 70% các bệnh về răng miệng của trẻ. Tuy nhiên sản phẩm phải chứa ít nhất 50% Xylitol mới thực sự hữu hiệu.

Trên thế giới có nhiều công ty đã áp dụng kết quả khoa học của Xylitol bằng cách sản xuất kẹo gum chứa Xylitol. Nổi bật là tập đoàn Lotte của Nhật Bản với dòng sản phẩm chuyên trị chất này là Lotte Xylitol Gum với hàm lượng trên 50% Xylitol. Tin vui là các bà mẹ Việt Nam đã có thể tìm thấy Lotte Xylitol Gum cho con mình ở khắp các cửa hàng hoặc siêu thị.

- Dùng thuốc chải răng có fluoride, nước uống hoặc muối ăn có bổ xung Fluor, Dùng nước máy, sữa chứa fluor, dùng kem đánh răng có fluor giảm được 30% sâu răng.

 

Vai trò của Fluor trong phòng chống sâu răng

Fluor (F) là một nguyên tố khá phổ biến trong vỏ trái đất, chủ yếu nằm trong quặng phosphat tự nhiên

Flouride hầu như luôn có mặt trong các nguồn nước sinh hoạt dưới dạng các ion. Với nồng độ Flouride thích hợp từ 0,5 đến 0,7 ppm trong 1.000ml nước thì chỉ cần hấp thụ lượng nước qua đường ăn uống tự nhiên hàng ngày, lượng Flouride vào cơ thể cũng sẽ đủ vào yêu cầu. Tuy nhiên, tỷ lệ nồng độ flouride trong nước sinh hoạt ở Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,4ppm/1.000ml.

Trong cơ thể chứa một vài gam F, máu chứa 0,032 mg F/lít, trong xương và men răng chứa 96% F của cơ thể. F có trong thức ăn hằng ngày như rau, củ, quả... F có nhiều vai trò quan trọng đối với cơ thể: giúp chống bệnh sâu răng, do F ức chế hoạt động của vi khuẩn trên răng, ngăn chặn quá trình phân hủy hợp chất vô cơ trên men răng, chống lại acid. Flouride là hợp chất khoáng giúp men răng thêm bền chắc bằng cách  fluoride kết hợp với hydroxy apatid có trong men răng thành chất fluorohydroxyapatite có tác dụng làm cho men răng cứng hơn, do vậy chống đỡ với vi khuẩn và acid tốt hơn. Flouride còn làm giảm sinh ra acid của các vi khuẩn trên mảng bám răng Fluor giúp men răng trẻ em khoáng hóa, tăng sức đề kháng của răng chống lại tác động axit của các vi khuẩn gây sâu răng; Nó cũng có vai trò trong quá trình tạo xương và chuyển hoá canxi, phốt pho F là nguyên tố cơ bản trong cấu trúc xương và dây chằng, F kích thích tổng hợp collagen ở giai đoạn đầu để khôi phục xương gãy, chất natri Florur kích thích các tế bào xương làm tăng khối lượng xương dùng điều trị tốt trong bệnh loãng xương. Do việc xác định liều lượng F có lợi mà không gây thừa F trong cơ thể rất khó, trong khi việc thừa hay thiếu F đều gây nên một hậu quả tương tự nhau trên cùng một bộ phận cơ thể. Việc thiếu flouride sẽ gặp các vấn đề về răng miệng. Nhưng nếu thừa flouride thì hàm răng cũng có vấn đề Vì vậy cần phải sử dụng F đúng liều lượng tránh dẫn đến kết quả ngược lại. Nếu hít phải từ 2g F trở lên có thể bị ngộ độc cấp tính gây tử vong. Trường hợp cơ thể hấp thu từ 5-10mg  F/ngày, kéo dài nhiều ngày sẽ gây ngộ độc F mạn tính. Khi dùng dư lượng natri Florur sẽ dẫn đến bị tăng huyết áp.

 

Để chữa sâu răng, chỉ cần phết vào chỗ sâu một lớp vecni hoặc gel chứa fluor

Trẻ con mới sinh cho uống nước flouride ở nồng độ một phần triệu sẽ giúp giảm khả năng sâu răng sữa, giảm 44% sâu răng vĩnh viễn về sau. Sử dụng flouride trong giai đoạn phát triển răng giúp răng cứng chắc về sau. Flouride cũng tốt cho răng trẻ con và cả người lớn khi sử dụng trực tiếp trên răng (kem đánh răng, nước súc miệng...).



Biểu hiện của việc thiếu flouride rất dễ nhận ra. Đó là tình trạng răng yếu, không bám chắc vào lợi, dễ bị sâu răng, men răng không sáng bóng mà mờ xỉn. Đối với trẻ em bú sữa mẹ, tình trạng thiếu flouride thường xuyên xảy ra vì flouride không đi qua sữa mẹ với lượng thích hợp. Hơn nữa, phần lớn phụ nữ trong độ tuổi sinh nở hiện nay cũng ở trong tình trạng thiếu flouride nên càng ảnh hưởng đến các thế hệ sau. Hiện nay, nhiều địa phương, nhất là các địa phương khu vực phía nam đang tính đến khả năng bổ sung cho thêm flouride vào nước sinh hoạt để tăng cường độ bền chắc cho răng và xương.

Ngược lại thừa Fluor cũng gây ra những hậu quả khó khắc phục. Với trẻ em, nếu chịu mức nồng độ flouride quá cao sẽ có nguy cơ bị hư hỏng men răng nghiêm trọng, răng bị đổi màu, thậm chí là mất men răng và sâu răng. Bệnh này còn có thể ảnh hưởng đến chức năng của men răng - có vai trò bảo vệ răng và mô răng bên dưới khỏi bị mục và nhiễm trùng. Nếu bị nhiễm nhiều florua trong thời gian dài, có thể tăng nguy cơ gãy xương. Với người lớn, nếu uống quá nhiều flouride trong thời gian dài có thể làm men răng bị lốm đốm nâu. Với nồng độ flouride cao trên 1 ppm/1000ml nước sẽ gây nên bệnh Fluose (răng đổi mầu nâu)... Nặng hơn, răng có thể bị hư hại nặng, xỉ đóng thành từng mảng vàng, loang lổ, bị sâu, mục... Thậm chí, tình trạng ngộ độc flouride còn có thể gây nên chứng đau xương, gai đôi cột sống.

Khi nguồn nước sinh hoạt không đủ nồng độ flouride thì phải bổ sung bằng viên flouride, kem đánh răng và nước súc miệng có flouride... Tất cả trẻ bú sữa mẹ cần được bổ sung florua giọt. Trẻ nuôi bằng sữa bình cần nhận florua bổ sung nếu nguồn nước uống không có florua. Lượng florua bổ sung đường uống sau khi cai sữa mẹ phụ thuộc vào lượng florua tự nhiên hoặc bổ sung có trong nước uống và tổng lượng nước uống vào trong ngày của trẻ. Trẻ em từ 5 tuổi trở lên có thể dùng flouride được cho cả 2 loại, toàn thân và tại chỗ nhưng cần tham khảo ý kiến bác sỹ về liều lượng.

Hầu hết kem đánh răng đều có chứa Fluor, nguồn nước cấp cho cư dân đô thị cũng có Fluor với hàm lượng nhất định, ở vùng sâu, vùng xa người ta đưa Fluor vào muối ăn và khuyến cáo người dân nên dùng.

 

- Dùng chất nhựa phủ lên mặt nhai các răng có nguy cơ sâu răng cao như trên mặt nhai của răng hàm hoặc những răng  răng hàm nhỏ (premolars) có nhiều đường rãnh và hố sâu trũng làm cho thức ăn thường hay bị ứ đọng lại trên mặt nên dễ bị sâu răng hơn những răng khác. Chất nhựa sealant sẽ được đổ bao phủ trên những mặt răng, hàn kín các kẽ hở sâu trên mặt nhai gọi là trám bít hố rãnh phòng ngừa sâu răng. Trám bít hố rãnh phòng ngừa là phương pháp tốt để bảo vệ bề mặt răng chưa trám hoặc không bị sâu. Chất liệu dùng để trám bít hố rãnh phòng ngừa là 1 vật liệu trắng và trong –Sealants- được đặt lên bề mặt của răng. Mục đích của trám bít hố rãnh phòng ngừa là lắp những hố rãnh tự nhiên nơi mà mầm bệnh dễ dàng tích tụ lại, vì vậy sẽ bảo vệ răng khỏi sâu răng. Lớp nhựa này tồn tại được vài năm nên cần phải được xem xét hoặc quét lại nếu nó bị tróc đi. 

 Bs Nguyễn Cao Thắng

Các bài viết khác
GIỚI THIỆU CHUNG
Chào mừng bạn đến với Nha Khoa Happy!

Nha Khoa Happy được nhiều người biết đến như là một thương hiệu cao cấp trong nghành Nha Khoa Việt Nam. Nhakhoahappy gồm một hệ thống các phòng khám cao cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội với cùng một tiêu chuẩn cao về tr&igra...Xem tiếp
ĐỘI NGŨ BÁC SỸ
DỊCH VỤ
VĂN BẰNG CHỨNG CHỈ
ĐĂNG KÝ KHÁM
Họ tên:
Điện thoại:
Email:
Thời gian khám:
 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
ĐỂ LẠI Ý KIẾN - LỜI NHẮN
HỎI ĐÁP NHA KHOA
Hỏi: thua bac si, chau muon hoi sau khi di nieng rang thi sau bao...
Đáp: Bạn thân mến!
Nếu bạn làm niềng răng  theo cách thông thường và phổ biến  tức l&ag...
Hỏi: chau muon kep rang nhung chi phi qua lon, neu chau chinh nha...
Đáp: chào cháu,
năm nay cháu bao nhiêu tuổi,cháu đã biết gì về chỉnh nha??tại trun...
Hỏi: Hiện tại em có nhu cầu chỉnh nha, với hàm răng có 2 răng khể...
Đáp: chào bạn!
câu hỏi của bạn thật khó,thật sự chỉnh nha là 1 quá trình lâu d&agra...
Hỏi: chao` bac'' chau'' nam nay 18 tuoi chau'' co ham rang thua n...
Đáp: Chào cháu!
   Nắn chỉnh răng với một khoảng thời gian 1.5 tháng quả là một thử th&aacu...
Hỏi: giá dây thép ở nẹp răng là bao nhiêu ...
Đáp: Bạn thân mến!
Chúng tôi rất xin lỗi vì câu hỏi của bạn qúa ngắn, không đủ để ch&...
Hỏi: Thưa bác sĩ,hiện tại cháu đang là sinh viên.cháu rất muốn nẹ...
Đáp: Chào em!
Em đang là sinh viên của trường nào? Nếu là khu vực Hà Nội e có thể ...
Hỏi: Khi chau cuoi thi hay bi ho loi vay eu sau khi kep rang xong...
Đáp: Chào cháu!
Trường hợp của cháu là trường hợp gặp khá phổ biến. Một số trường hợp sau khi ...
Hỏi: theo cháu biết,phòng khám có dịch vụ lấy cao răng miễn phí,v...
Đáp: Mời bạn đến phòng khám một cách tự tin. Chúng tôi chăm sóc khách hàng c&oacu...
Hỏi: Xin hỏi bác sĩ khi nhổ răng số 8 cần phải uống thuốc gì trướ...
Đáp: Bạn thân mến, nhổ răng số 8 là một tiểu phẫu thuật rất quan trọng trong nha khoa. Quan trọng bởi nếu thành c&oc...
Hỏi: chào bác sĩ.Tôi 24 tuổi.Hai răng cửa bị thưa cách nhau1,5mm....
Đáp: Chào bạn!
Với trường hợp của bạn thì có các cách giải quyết như sau:
  1. Tr&aac...
Hỏi: chau da chup rang su tital nay chau muon thay bang rang su l...
Đáp: Chào cháu !
Trường hợp của cháu có thể đến phòng khám để cắt chụp răng titan đ&oacu...
Hỏi: Chau 14 tuoi,chau muon di chinh rang,rang chau bi ho do di t...
Đáp: chào cháu!
trường hợp của cháu phải qua pk để khám chi tiết mới trả lời chính xác ...
Hỏi: thưa bác sỹ,cháu thấy ở nguyễn phong sắc mới mở nha khoa hap...
Đáp: Bạn thân mến, giá nắn chỉnh răng thường cao bởi quá trình điều trị kéo dài, các vật...
Hỏi: chào bác sĩ!!! em có vấn đề muốn hỏi bác sĩ ạ. hàm răng của ...
Đáp: chào bạn!
Răng của bạn  bị mất men do kháng sinh là trường hợp rất phổ biến của thế hệ 7x,bọc răn...
Hỏi: thua bs e muon hoi em bi lech lac rang o ham tran co mot ran...
Đáp: chào bạn
thật khó để trả lời câu hỏi của bạn chinh xác dc,hãy qua pk của chúng t&oc...
THỐNG KÊ
    Đang xem
30 
Lượt truy cập
407,904 
Nha Khoa Happy
Happy1: 50 Bis Quán Sứ - Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội - Điện thoại : 84.4.39380079 - Fax: 84.4.39380220
Happy2: 47 Nguyễn Phong Sắc - Quận Cầu Giấy, Hà Nội - Điện thoại: 84.4.37549882 - Fax: 84.4.37549881
Copyright © 2010 nhakhoahappy.com - Thiết kế và phát triển bởi Ovem!Software
phan mem giup ban khi virus download phần mềm diệt virus chrome duyet web google voi google chrome và duyệt web firefox nhanh download firefox